Thứ sáu, ngày 17 tháng chín năm 2010

Tản mạn về khoa học

(Bài đăng trên Tia Sáng)
08:20-16/09/2010


Giáp Văn Dương


Newton

Cội rễ của khoa học


Cội rễ của khoa học, có lẽ bắt đầu bởi chính sự tò mò của con người về thế giới này qua những câu hỏi vì sao, như thế nào, để làm gì? Chẳng hạn: Vì sao có ngày và đêm? Vì sao có gió, bão, mây, mưa, sấm, chớp?


Cách dễ nhất để trả lời những câu hỏi này là gán cho mỗi câu hỏi trên cho một vị thần. Vì thế các Thần Ngày, Thần Đêm, Thần Mây, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Bão, Thần Yêu, Thần Ghét, Thần Thiện, Thần Ác..., và nhiều thần khác nữa lần lượt ra đời.



Thậm chí, để cho tiện lợi hơn nữa, có thể qui tất cả các câu hỏi trên cho một vị Thần Vạn Năng duy nhất – một đấng siêu nhiên, làm ra tất cả, chịu trách nhiệm tất cả. Để làm gì ư? Để đạt được một mục đích cao cả. Và thật trùng hợp, một trong những khát vọng cơ bản nhất của con người là khát vọng vươn đến những điều cao cả, nên hầu như không ai thắc mắc. Đơn giản, tiện lợi và cao cả: Quá đỗi hài lòng!

Nhưng một số người có đầu óc tò mò hơn mức bình thường, không hài lòng với cách giải thích đó, nên bắt đầu hoài nghi và quan sát. Họ thấy các hiện tượng tự nhiên lặp đi lặp lại một cách chính xác: Hết ngày thì đến đêm, thủy triều lên rồi lại xuống, trăng khuyết rồi lại tròn, bốn mùa luân phiên lặp lại… Sự sinh sôi của cỏ cây hoa lá, thậm chí tâm trạng con người cũng không ngoại lệ, như đã viết bởi Nguyễn Du:

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Như thế, nếu thế giới này được ngự trị bởi các vị thần, thì các vị thần này phải tuân thủ những quy tắc rất chính xác. Thậm chí, những quy tắc này có thể viết được dưới dạng những phương trình toán học. Sử dụng các phương trình này, con người có thể tiên đoán được ngày giờ, vị trí của những sự kiện thuộc phạm vi cai quản của các vị thần, như việc tính được chính xác ngày giờ của hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, thủy triều, sự chuyển động của các hành tinh…

Do đó, thay vì trông cậy vào các vị thần, một số người bắt đầu chủ động đi tìm những định luật điều khiển thế giới này.

Một trong những người tiên phong trong việc đó là Galileo (1564-1642), nhà Vật lý, Toán học, Thiên văn học và Triết học người Ý. Qua thí nghiệm thả vật rơi từ tháp nghiêng Pisa, ông đã hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại thông qua ba bước: thiết kế thí nghiệm; quan sát và đo đạc, so sánh kết quả với tính toán. Chính nhờ đó mà ông được coi là cha đẻ của khoa học hiện đại.

Ông có lẽ cũng là người đầu tiên cho rằng các quy luật của tự nhiên phải được biểu diễn bởi Toán học qua câu nói nổi tiếng: Thiên nhiên là một cuốn sách viết bằng ngôn ngữ toán học.

Qua đó, ông cũng như hầu hết các nhà khoa học sau này, đã cho rằng chính các quy luật có thể biểu diễn bởi ngôn ngữ Toán học đã thay thế các vị thần điều khiển sự vận hành của thế giới này.

Do đó, thay vì trông cậy hoặc tìm cách tiếp xúc với các vị thần bằng cách này hoặc cách khác, như cầu xin hay tu luyện, các nhà khoa học chủ động tiến hành những nghiên cứu để tìm hiểu tự nhiên, thậm chí mở rộng sang cả con người, theo cách mà Gagileo đã làm.

Các định luật khoa học

Nhiệm vụ của khoa học tự nhiên khi đó không là gì khác ngoài việc đi tìm những định luật chi phối sự vận hành của thế giới, được phát biểu bởi ngôn ngữ Toán học.

Nhưng rắc rối lại nảy sinh ở đúng chỗ này: Trước khi người ta tìm ra những định luật này thì chúng ở đâu?

Cụ thể hơn, trước khi Newton tìm ra định luật hấp dẫn thì định luật này có tồn tại? Và sau khi Einstein tìm ra thuyết tương đối mô tả hấp dẫn chính xác hơn Newton thì định luật của Newton có biến mất?

Rõ ràng là không, vì trước khi Newton tìm ra định luật đó thì trái đất vẫn quay xung quanh mặt trời. Và sau khi Einstein tìm ra định luật hấp dẫn mới thì học sinh vẫn sử dụng định luật cũ của Newton để làm bài tập hàng ngày, và các nhà khoa học vẫn sử dụng định luật hấp dẫn của Newton để tính toán trong trong công việc của mình.

Như thế, các định luật khoa học dường như tồn tại trong một thế giới riêng, độc lập với ý thức con người. Một người nào đó, tìm ra một định luật khoa học, đôi khi chỉ là may mắn hoặc vô tình, như chính Newton từng nói: nhặt được một vỏ sò trên bãi biển.

Plato (429–347.Tr.CN), nhà triết học Hy lạp cổ đại cho rằng, tồn tại một thế giới bất biến, vĩnh cửu, hoàn hảo tồn tại độc lập với ý thức con người. Còn thế giới thực của chúng ta chỉ là những biểu hiện xấp xỉ gần đúng của thế giới vĩnh cửu đó mà thôi.

Do đó, nếu tồn tại một thế giới của các định luật khoa học thì thế giới này chính là một dạng của thế giới mà Plato đã đề cập.

Nhưng thế giới của Plato có tồn tại thực hay không? Không ai chứng minh được. Chỉ biết rằng, con người tìm thấy các định luật khoa học bằng chính quá trình tư duy của mình.

Như thế, các định luật khoa học dường như là sản phẩm của quá trình tư duy tư biện. Nói cách khác, nó tồn tại trong thế giới tư niệm của con người và phụ thuộc hoàn toàn vào đầu óc chủ quan của con người.

Như thế, nó sẽ không thể ra đời trước con người và sẽ biến mất khi con người biến mất. Trái đất không quay xung quanh mặt trời trước khi ai đó chứng minh như vậy và ngừng quay khi con người biến mất khỏi thế giới này… Một điều quá ư vô lý!

Vậy hợp lý hơn cả là các định luật khoa học có một thế giới của riêng mình, độc lập với con người. Và bằng cách nào đó, có thể chỉ là hoàn toàn vô tình, có thể do kiên trì đi theo những chỉ dấu thực nghiệm, con người tìm ra chúng, như trẻ em tìm thấy vỏ sò trên bãi biển.

Đến đây lại xuất hiện một câu hỏi khác: Vậy cách làm nghiên cứu theo phương pháp mà Galileo đã khởi xướng: thiết kế thí nghiệm, quan sát và đo đạc, so sánh kết quả với tính toán, có phải là cách tốt nhất để đi tìm những định luật này? Vai trò của những thực nghiệm khoa học là gì ngoài việc cung cấp những chỉ dấu để tìm kiếm những định luật này?

Và những câu hỏi khác lớn hơn: Nếu các định luật khoa học tồn tại trong thế giới của riêng mình thì chúng có liên hệ gì với thế giới thực này và với con người? Vì sao chúng lại có thể mô tả chính xác thế giới này? Liệu chúng có thể mô tả đầy đủ thế giới này? Vì sao con người lại có thể tìm ra và nhận thức được chúng? Liệu có tồn tại một giới hạn nào đó cho lý tính của con người?

Câu trả lời còn bỏ ngỏ, mà những câu hỏi đã quá xa điểm xuất phát ban đầu.

Thứ năm, ngày 09 tháng chín năm 2010

Dân chủ đến từ đâu?




Thay vì mắc kẹt trong câu hỏi: "Dân chủ là gì?", cần đẩy nó đi một bước xa hơn về phía cội nguồn thông qua một câu hỏi mới: "Dân chủ đến từ đâu?". Khi biết được dân chủ đến từ đâu thì bản chất của dân chủ sẽ được sáng tỏ.

"Việc nước mà dân không biết thì không thể dân chủ được"

"Đã đến lúc không thể tránh né những vấn đề cốt tử"

LTS: Những cuộc thảo luận về dân chủ - dù ở bất cứ mức độ nào, khía cạnh nào - cũng đều thu hút sự quan tâm của dư luận. Vì một lẽ, dân chủ được kì vọng như chìa khóa vàng để mở cánh cửa phát triển. Mới đây, một vị tướng Trung Quốc còn đặt vấn đề, dân chủ hay là chết.

Tuy nhiên, dân chủ là gì còn là một vấn đề gây tranh cãi và trên thực tế không dễ trả lời.

Trong bài viết này, tác giả Giáp Văn Dương tìm cách làm sáng tỏ bản chất của dân chủ bằng cách đặt một câu hỏi khác: Dân chủ đến từ đâu? Mời bạn đọc cùng tham gia thảo luận.

Nghịch lý dân chủ

Dân chủ thường được kỳ vọng như là một trong những động lực chính thúc đẩy sự phát triển, vì một thực tế hiển nhiên: Những nước phát triển trên thế giới đều là những nước theo thể chế dân chủ.

Nhưng dân chủ là gì lại là một vấn đề gây tranh cãi. Do ảnh hưởng của những yếu tố lịch sử, văn hóa, tôn giáo, hoàn cảnh sống... mà mỗi người, nhóm người, thậm chí quốc gia, hiểu dân chủ một cách khác nhau. Vì thế, tìm cách trả lời rốt ráo câu hỏi dân chủ là gì là một việc làm tối cần thiết.

Tối cần thiết, nhưng không dễ. Vì ở đây có một nghịch lý, có thể gọi là nghịch lý dân chủ: Bản thân việc định nghĩa hoặc diễn giải dân chủ là gì, từ bất kì chủ thể nào, đều đã chứa đựng trong nội tại của nó những yếu tố áp đặt, phi dân chủ. Nói cách khác, càng nhân danh dân chủ, anh càng trở nên phản dân chủ.


Ảnh: Việt Dũng

Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất về cách hiểu dân chủ là gì giữa Đông và Tây, quốc gia và quốc gia, cá nhân và cá nhân. Lý do là bản thân mỗi diễn giải này đều mang trong nó những chủ kiến ít nhiều mang tính áp đặt phi dân chủ, nên không được chấp nhận bởi kẻ khác.

Mỗi người, hoặc nhóm người, hiểu dân chủ một cách khác nhau và ra sức bảo vệ, thậm chí áp đặt cách hiểu của mình cho những người còn lại. Những cuộc thảo luận về dân chủ, dù là trong giới học thuật, chính trị gia hay quần chúng, vì thế đều có nguy cơ kéo dài bất tận mà không thu được sự đồng thuận.

Cho nên, thay vì mắc kẹt trong câu hỏi: "Dân chủ là gì?", cần đẩy nó đi một bước xa hơn về phía cội nguồn qua thông qua một câu hỏi mới: "Dân chủ đến từ đâu?".

Khi biết được dân chủ đến từ đâu thì bản chất của dân chủ sẽ được sáng tỏ. Quan trọng hơn, khái niệm dân chủ khi đó sẽ trở nên khả dụng vì mỗi người đều thấu hiểu nguồn gốc hình thành của nó, vì thế có thể làm chủ và chủ động khai thác nó, thay vì là đặt nó làm đối tượng cho những tranh luận mơ hồ bất tận ồn ào.

Dân chủ ở hành vi

Ở mức độ cơ bản nhất, dân chủ biểu hiện trong hành vi của chủ thể đang xem xét. Một cá nhân, một cộng đồng, hay một nhà nước, có được coi là dân chủ hay không phải được xét trên chính tập hợp những hành vi của cá nhân, cộng đồng hay nhà nước đó.

Hành vi chính là cơ sở duy nhất để đánh giá mức độ dân chủ của chủ thể. Một tuyên ngôn đẫy rẫy những mỹ từ về dân chủ nhưng đi kèm với một hành động áp đặt thì về bản chất, chủ thể của tuyên ngôn đó là phi dân chủ.

Mức độ dân chủ trong hành vi, vì thế, là thước đo mức độ dân chủ của chủ thể hành vi, dù chủ thể đó là ai, cá nhân hay bất kỳ tổ chức nào đi chăng nữa.

Do đó, hành vi phi dân chủ, và rộng hơn là tất cả những phương tiện phi dân chủ, không thể là, hoặc được biện minh là, biểu hiện của một mục đích dân chủ. Ở đây, mục đích không được phép biện minh cho phương tiện.

Nhưng hành vi lại xuất phát từ nhận thức. Vậy nhận thức nào sẽ mang lại hành vi dân chủ cho mỗi chủ thể?

Để trả lời câu hỏi này, hãy xem xét một cuộc thảo luận có tính dân chủ.

Nguyên tắc khiêm tốn

Trong cuộc thảo luận này, những người tham gia thảo luận trình bày, lắng nghe, thảo luận và phản biện ý kiến của nhau một cách tôn trọng, ôn hòa.

Mục đích của thảo luận dân chủ là để tìm ra ý tri thức đúng đắn nhất, lựa chọn hợp lý nhất trong số những đề xuất của những người tham gia thảo luận.

Nhưng vì sao những người tham gia thảo luận lại phải mất thời gian như vậy? Vì sao người có ưu thế cao nhất về kinh nghiệm, tri thức hoặc quyền lực không áp đặt ý kiến của mình cho những người còn lại?

Vì họ biết rằng, tri thức và lý tính có giới hạn và khiếm khuyết về bản chất.

Sự giới hạn và khiếm khuyết này không nằm ở sự yếu kém của cá nhân, mà thuộc về bản chất của tri thức, được minh họa hùng hồn qua Nguyên lý bất toàn của Toán học - tên nguyên thủy là Định lý bất toàn - và Nguyên lý bất định của Vật lý.


Để khắc phục chúng, họ phải nhờ đến sự giúp đỡ của một nguyên lý khác, cũng cơ bản không kém. Đó là nguyên lý bổ sung củaVật lý, được phát biểu ngắn gọn rằng: Đối lập là bổ trợ. Nói cách khác, đối lập không phải là triệt tiêu nhau, mà là bổ trợ cho nhau.

Bộ ba nguyên lý này tạo ra ý thức khiêm tốn, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhau một cách cầu thị giữa những người tham gia thảo luận.

Như thế, vô hình trung, trong suốt quá trình thảo luận, họ đã cùng nhau thực hành một nguyên tắc, có thể gọi là nguyên tắc khiêm tốn, như sau: Mỗi người tham gia thảo luận đều khiêm tốn và cầu thị một cách có ý thức vì biết rằng bản chất của tri thức và lý tính là có giới hạn và khiếm khuyết về bản chất.Và để khắc phục sự giới hạn và khiếm khuyết này, đối lập và khác biệt cần phải được tôn trọng vì chúng là nguồn bổ trợ cho tri thức và lý trí của bản thân mình.

Chính nguyên tắc khiêm tốn này đóng vai trò nhạc trưởng, chỉ huy cuộc thảo luận dân chủ đi đến đồng thuận cuối cùng mà không bị đổ vỡ giữa chừng vì những khác biệt.

Nhạc trưởng

Bây giờ mở rộng cuộc thảo luận dân chủ sang một trường hợp khác rộng hơn, như sự điều hành của một chính phủ dân chủ chẳng hạn.

Người quan sát ở đây sẽ thấy, sự điều hành của một chính phủ dân chủ có sự tương tự về bản chất so với một cuộc thảo luận có tính dân chủ.

Ở đó, chính phủ và những đại diện của dân chúng sẽ trình bày, lắng nghe, thảo luận và phản biện ý kiến của nhau một cách tôn trọng, ôn hòa.

Mục đích của việc này là để tìm ra những tri thức và lựa chọn, cụ thể là những kế hoạch, phương án, chiến lược phát triển hay quản lý và điều hành đất nước... tốt nhất.

Nhưng vì sao chính phủ dân chủ lại phải làm như vậy, trong khi họ có đủ phương tiện, thậm chí cả súng, để áp đặt ý kiến của mình?

Vì chính phủ dân chủ, cũng giống như những người tham gia cuộc thảo luận ở trên kia, biết được giới hạn và sự khiếm khuyết mang tính bản chất về tri thức và lý trí của mình. Do đó, họ khiêm tốn và cầu thị tham gia đối thoại với nhân dân để tìm ra những tri thức và lựa chọn tốt nhất có thể, nhằm giải quyết những vấn đề họ phải đương đầu.

Nói cách khác, chính phủ dân chủ cũng thực hành nguyên tắc khiêm tốn đã nêu trên.

Nếu đi xa hơn, mở rộng sự điều hành của một chính phủ dân chủ sang sự vận hành của một thiết chế dân chủ thì sao?

Người quan sát sẽ thấy nguyên tắc khiêm tốn vẫn đóng vai trò nhạc trưởng chỉ huy mọi hoạt động của thiết chế này.

Vì nhận thức được rằng, tri thức của con người nói chung và cá nhân nói riêng là có giới hạn và khiếm khuyết về bản chất, nên một thiết chế dân chủ sẽ được thiết kế sao cho có khả năng huy động tốt nhất trí tuệ của tập thể trong việc thu nhận tri thức, lựa chọn và ra quyết định.

Thiết chế đó sẽ đảm bảo sao cho mỗi người dân có quyền và trách nhiệm nói lên ý kiến của mình cũng như tham dự vào hoạt động của chính quyền ở mức độ thích hợp nhất.

Thiết chế đó sẽ đảm bảo cho người lãnh đạo là người có tài năng và uy tín nhất; mỗi quyết sách được đưa ra sẽ là quyết sách tối ưu nhất.

Dân chủ đến từ sự khiêm tốn

Như thế, nguyên tắc khiêm tốn đóng vai trò nền tảng chi phối sự vận hành của một thiết chế dân chủ, hoạt động của một chính phủ dân chủ hay đơn giản là diễn tiến của một cuộc thảo luận dân chủ.

Nói cách khác, nguyên tắc khiêm tốn là nền tảng cho mọi hoạt động mang tính dân chủ. Thiếu sự chỉ huy của nguyên tắc này, sự áp đặt và độc đoán sẽ bành trướng làm cho mọi diễn tiến sau đó trở thành áp đặt, phi dân chủ.

Như thế có kết luận: Nguồn gốc sâu xa của dân chủ là sự khiêm tốn một cách có ý thức về tri thức và lý tính của con người. Sự khiêm tốn này xuất phát từ nhận thức một cách khoa học về sự bất định và bất toàn của bản thân tri thức và lý tính.

Và để khắc phục sự bất toàn và bất định này, con người cần phải thực hành một nguyên lý khác là Nguyên lý bổ sung: Tôn trọng và chấp nhận những tri thức trái ngược như một sự bổ sung cho tri thức và lý trí của bản thân mình.

Làm được như thế, dân chủ sẽ tự đến, sống động và sáng rõ.