Thứ hai, ngày 30 tháng tám năm 2010

Trí thức cận thần và trí thức độc lập



Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên "Trí thức cận thần" để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành "đất nước cận thần" và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

Trí thức độc lập

Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.


Ảnh minh họa.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương "độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân".

Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.

Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: "Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới".

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

"Trí thức cận thần"

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một "trí thức cận thần": Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

Do hành xử như một "trí thức cận thần", không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường "trí thức cận thần" của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường "trí thức cận thần", để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành "đất nước cận thần", và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

________________________

Ghi chú:

1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ "trí thức cận thần" chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với "trí thức cận thần", đó là "trí thức phò chính thống", do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.

Fukuzawa là nhà giáo dục và học giả có thể nói là người ở bên ngoài chính quyền Nhật Bản có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn cuộc Canh Tân Minh Trị, lật đổ chế độ Tokugawa năm 1868. Ông lãnh đạo cuộc đấu tranh học tập những ý tưởng của phương Tây nhằm xây dựng "một nước Nhật Bản hùng mạnh và độc lập".

Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ.

Trong tác phẩm Phúc ông Tự truyện viết năm 1901, trước khi mất ít lâu, Fukuzawa tuyên bố việc xoá bỏ mọi đặc ân phong kiến của triều đại Minh Trị và chiến thắng chế độ phong kiến Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894-1895 để hình thành một nhà nước Nhật Bản hiện đại chính là ước mơ suốt cuộc đời ông.

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 trong một gia đình Công giáo, quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).

Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như Singapore, Malaisia, Pháp, La Mã... Trong những chuyến đi đó, ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới, trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.

Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước.

Sau ba bản điều trần trên, Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình, liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của ông là những đề nghị tâm huyết nhằm góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế, lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước, và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.

Song thật tiếc, những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại.

  • Theo Blog Giap Van Duong
>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ sáu, ngày 27 tháng tám năm 2010

Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?

Giáp Văn Dương

Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

Trí thức độc lập

Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.

Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

“Trí thức cận thần”

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

---

Ghi chú:

1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.


>>Đọc tiếp...

====================================

Chủ nhật, ngày 22 tháng tám năm 2010

Công thức của thành công?

TP - Sự kiện GS Ngô Bảo Châu nhận được giải thưởng Fields quý giá đã làm nức lòng người Việt khắp nơi. Đó là thành công của một tài năng khoa học lớn. Đó cũng là sự khích lệ quí giá với những người Việt đang ước mơ vươn tới những đỉnh cao, không chỉ trong khoa học, mà trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Vì thế, một sự suy ngẫm về công thức của thành công, nếu có, sẽ giúp ích cho việc định hướng những việc cần làm để đạt được sự thành công.

Nhiều nhà khoa học cho rằng, công thức của thành công là kết quả của phép nhân ba yếu tố như sau:

Thành công = Tài năng × Nỗ lực × May mắn

Như thế, những người thành công phải hội tụ được cả ba yếu tố nói trên. Nếu có một yếu tố bằng không thì phép nhân trên sẽ cho kết quả bằng không, bất kể các thừa số còn lại có giá trị lớn đến bao nhiêu đi chăng nữa.

Ví dụ, người có tài năng, có may mắn, nhưng không có nỗ lực - lười biếng chỉ nói không làm chẳng hạn - thì chắc chắn sẽ không thể thành công được.

Nhưng đó là ở những nước phát triển, khi cơ hội thành công là tương đối bình đẳng với tất cả mọi người. Ở đó môi trường, văn hóa, cơ chế làm việc đã phát triển đến mức tương đối hoàn thiện. Còn ở Việt Nam, công thức này có lẽ cần được điều chỉnh như sau:


Thành công = Tài năng × Nỗ lực × May mắn × Môi trường

Tư chất của người Việt không thua kém người nước ngoài. Người Việt có phẩm chất của tài năng. Người Việt lại có tiếng là chăm chỉ cần cù. Còn may mắn, thường là do ngẫu nhiên ngoài sự kiểm soát. Nên yếu tố cuối cùng - môi trường sống và làm việc - là yếu tố quan trọng nhất đến sự thành công của người Việt.

Nếu môi trường không tạo điều kiện cho tài năng phát triển, tác động của môi trường đến sự thành công bằng không (thậm chí âm trong nhiều trường hợp) thì tích số trên vẫn bằng không (hoặc âm). Dù tài năng đến mấy, nỗ lực đến mấy, may mắn đến mấy đi chăng nữa, một cá nhân không thể thành công được.

Điều này cho thấy, thay vì kêu gọi khuyến khích tài năng bằng cách này cách khác một cách ồn ào phản cảm, thì điều cần hơn hết hiện giờ là tạo môi trường cho tài năng phát triển.

Môi trường sống, môi trường làm việc, phải là bệ phóng của tài năng, chứ không phải là nơi kìm hãm và vùi dập tài năng được.

Nói thẳng ra, cơ chế làm việc hiện thời - nhất là của các cơ quan công quyền và học thuật hiện thời - cần phải thay đổi. Bằng không, việc tụt hậu so với thế giới là hệ quả hiển nhiên không cần bàn cãi.

Điều này lý giải tại sao những tài năng khoa học của Việt Nam lại thường chỉ thành công ở nước ngoài. Đơn giản là vì ở đó có môi trường làm việc tốt. Tài năng cá nhân có điều kiện nảy nở chứ không bị thui chột vì những cản trở của môi trường.

Điều này cũng giải thích tại sao, chính sách thu hút nhân tài triển khai ở rất nhiều tỉnh thành gần đây lại thất bại. Vì một lẽ, nhân tài không có môi trường làm việc.

Mà khi nhân tài đã không có môi trường làm việc thì những vế ngược lại - tức là những kẻ bất tài - sẽ thả sức tung hoành bằng nhiều mưu mô mẹo mực khác nhau. Điển hình nhất là việc dùng bằng giả và kéo bè kéo cánh, trù dập người tài.

Khi có môi trường tốt thì nhân tài sẽ tự động được nuôi dưỡng, khuyến khích. Người tài sẽ tự kéo đến. Còn không, dù có khản cổ kêu gọi, thì nhân tài có đến, sớm muộn gì nhân tài cũng sẽ đi.

Những mỹ từ như “ưu đãi”, “trải thảm đỏ”… khi đó sẽ chỉ là những lời sáo rỗng - thậm chí phản cảm, thiếu thành thật - mà thôi.

Vì thế, việc quan trọng nhất hiện giờ không phải là thu hút người tài, mà phải là tạo môi trường thuận lợi cho người tài làm việc; đảm bảo thu nhập và những nhu cầu tối thiểu cho người tài - nhất là những tài năng khoa học - chuyên tâm làm việc.

Làm được như thế, không chỉ tài năng có thể phát triển, mà những kẻ bất tài cũng không còn cớ đổ tại môi trường, tại cơ chế. Đúng là lợi cả đôi đường.

Điều còn lại nhức nhối, là biết rằng có lợi, nhưng vì sao cơ chế và môi trường làm việc vẫn không thay đổi? Vì sao sự cản trở vẫn nằm chặn đường hết năm này qua năm khác, thập kỉ này qua thập kỉ khác?

Câu trả lời xin dành cho những người có trách nhiệm và có thẩm quyền.

Giáp Văn Dương
>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ sáu, ngày 20 tháng tám năm 2010

Ngồi im

Hôm qua Giáp Văn thi ngồi im với Cụ Hinh.

Được nửa ngày, không hiểu nghĩ gì, cụ buột miệng: Hay đề nghị Hội Quốc Liên tổ chức thi ngồi im ngắm Biển Đông?

!?

Giả thử có cuộc thi này thật thì sao nhỉ?

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ năm, ngày 19 tháng tám năm 2010

Tin vui

Ở đây.
Xin chúc mừng anh và gia đình!

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ tư, ngày 18 tháng tám năm 2010

Tự tin

Buổi trưa đi nghe buổi nói chuyện " Giúp trẻ tự tin". Thu hoạch như sau:

1. Tự tin là cảm giác thấy mình tốt, mình có giá trị.

1. Điều gì tạo nên sự tự tin? Một phần là bẩm sinh. Nhưng phần lớn là do những đánh giá của xung quan và nhận định của chính mình.

3. Tự tin không đặt nền tảng trên 4B: Brains, Brawn, Beauty, Big Bucks. Như vậy thì yên tâm nhé: dốt, yếu, xấu, nghèo vẫn có thể tự tin như thường (đã tự kiểm chứng).

3. Bố mẹ cần làm gì để trẻ tự tin? Cần là tấm gương tốt; tích cực khen ngợi trẻ; dành thời gian cho trẻ; dạy trẻ các kĩ năng sống.

Nội dung không có gì mới (những cái đúng thường không mới), thậm chí có chỗ khiên cưỡng, nhưng cứ chép ra đây để ai quan tâm thì tham khảo.

Bonus thêm clip dưới đây cho những ông bố nào hay đi làm về muộn (sau 6.pm, như... tui chẳng hạn).



>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ sáu, ngày 13 tháng tám năm 2010

Đùa dai

Người đùa dai nhất có lẽ là Fermat (1601-1665), luật sư kiêm nhà toán học tài tử (nhưng đóng góp cho Toán học thì không tài tử chút nào). Năm 1637, ông viết bên lề cuốn sách Arithmetica (viết bởi Diophantos vào thế kỷ thứ 3) một câu đại ý rằng: phương trình xn + yn = zn không có nghiệm khác 0 với n>2. Ác ở chỗ ông chua thêm một câu khác bên cạnh: Tôi đã chứng minh được điều này, hay tuyệt! Nhưng lề cuốn sách này quá nhỏ, nên không thể viết ra ở đây.

Nhưng cái hay tuyệt đó phải mất đến 358 năm, làm đau đầu biết bao thế hệ toán học tài năng, mới thành hay tuyệt thật. Nhưng lại hay tuyệt ở chỗ, người đeo đuổi 8 năm để chứng minh nó - Wiles- xem ra cũng chẳng để làm gì hơn là khoe vợ.

Khi ông này nghĩ rằng mình chứng minh được rồi, thì hý hửng khoe với bà xã. Một tháng sau mới đi khoe với bà con lối xóm. Ai ngờ có tay láng giềng ác mồm, bảo sai. Mà sai thật mới ức. Thế là lại hùng hục làm lại, cố cho kịp sinh nhật vợ, vì bà này bảo không cần quà sinh nhật gì, chỉ cần chứng minh cái hay tuyệt nó đúng thôi!?

Vậy mà vẫn không kịp. Không hiểu sinh nhật đó ông có được vợ cho ăn bánh hay không nữa. Có khi phải ra phòng khách nằm vì can tội không có quà sinh nhật cũng nên.

Không còn cách nào khác, ông đành la toáng lên kêu gọi bà con giúp đỡ. Có cậu học trò cũ tên gọi Taylor nhận lời tới giúp. Hai thầy trò cặm cụi làm đi làm lại, nhiều lúc tưởng bỏ cuộc, hơn một năm trời mà vẫn không xong.

May mà nhờ kiên trì, lại được trời thương, nên cuối cùng cả hai cũng lần ra đầu dây mối nhợ. Ông lại khoe ỏm tỏi là cái hay tuyệt đã xong rồi!

Lần này thì xong thật. Cả thế giới (toán học) thở phào nhẹ nhõm và hoan hô rầm trời. Ông rinh được mấy cái mề-đay và mấy bịch tiền về khoe vợ.

Sướng nhá!

Thế mới biết, phần lớn những việc đàn ông làm cũng đều để khoe/làm quà cho chị em cả. Giả sử không có chị em trên đời, chắc mấy ông cũng chỉ nằm dài uống bia tán phét chứ đâm đầu vào mấy cái của nợ đó làm chi cho mệt.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ năm, ngày 12 tháng tám năm 2010

Mèo

Con mèo của Schroedinger năm nay 75 tuổi. Có lẽ là con mèo già nhất và khổ nhất thế giới.
Không biết dạo này sống chết thế nào? Ai biết, nói tui nghe.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ bảy, ngày 07 tháng tám năm 2010

Học trước lớp 1: Lợi bất cập hại?

07:26 | 07/08/2010

TP - Sau loạt bài “Căng thẳng đua học trước lớp 1”, Tiền Phong nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các chuyên gia cũng như bậc phụ huynh. Từ số báo này, chúng tôi mở diễn đàn “Học trước lớp 1: Lợi bất cập hại?”.

Bài tham gia diễn đàn xin gửi về địa chỉ email: khoagiao@tienphong.vn hoặc Ban Khoa giáo, Báo Tiền Phong 15 Hồ Xuân Hương, Hà Nội.

Phá vỡ tư duy của trẻ



Chuyên gia: Học trước lớp 1 phá vỡ tư duy của trẻ.

Vì sao các bậc phụ huynh lại đua nhau cho con đi luyện chữ trước khi vào lớp 1? Câu trả lời có lẽ nằm ở những điều sau:

- Phụ huynh sợ con mình đuối khi vào lớp 1.

- Phụ huynh láu cá, muốn dùng việc cho con đi luyện chữ để tiếp cận các thầy cô giỏi, tiện việc xin cho con vào lớp của các thầy cô đó sau này.

- Phụ huynh muốn con mình viết giỏi ngay khi vào lớp để thỏa mãn sĩ diện của mình.

- Phụ huynh a dua theo đám đông: thấy người ta cho con đi luyện chữ thì mình cũng làm theo đuôi như vậy.

- Phụ huynh thiếu hiểu biết, không biết rõ cái hại của việc luyện chữ trước khi vào lớp 1.

Lợi ảo hại thật

Cái lợi của việc học trước khi vào lớp 1 hoàn toàn là ảo đối với trẻ. Cùng lắm, nó chỉ thỏa mãn một số toan tính, sự sĩ diện hoặc tính a dua của các bậc phụ huynh. Nhưng cái hại của việc này là có thật, và rất nghiêm trọng. Cụ thể:

Hại thể chất: Tôi đồng ý với ý kiến của ông Lê Tiến Thành, Vụ trưởng Vụ GD Tiểu học, Bộ GD&ĐT (báo Tiền Phong Online ngày 6-8), các nước, bao gồm cả Việt Nam, có căn cứ khoa học khi quy định tuổi đi học đối với trẻ là 6 tuổi, đó là dựa vào sự phát triển tâm sinh lý và thể chất của trẻ. Nếu phụ huynh cho trẻ học trước, khớp tay trẻ chưa đủ cứng, đầu óc chưa đủ tập trung trong khoảng thời gian kéo dài, dẫn đến việc mệt mỏi, sợ học. Ngoài ra, sự phát triển về xương sống và cổ của trẻ cũng có thể bị ảnh hưởng.

Các bậc phụ huynh có thể lý luận rằng: Nếu chỉ cho trẻ đi học trước một vài tháng thì không ảnh hưởng gì, vì trên thực tế, trong một lớp, các trẻ có thể chênh nhau đến 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, việc học trước có một cái hại khác rất lớn về mặt tư duy mà hầu hết các bậc phụ huynh, và cả thầy cô, đều không ý thức được.

Phá vỡ tư duy: Trẻ ở tuổi này khả năng tập trung chưa cao. Nếu cho trẻ luyện chữ trước khi đi học, thậm chí trong suốt quá trình học tiểu học, thì trẻ sẽ dồn hết tâm trí để vẽ lại những mẫu chữ đẹp mà không phát triển tư duy logic, tư duy phân tích - tổng hợp, khả năng suy luận, khả năng diễn đạt… trong quá trình học.

Với trẻ học lớp 1 đến lớp 3, việc quan trọng là viết được một câu có nghĩa chứ không phải một hàng kí tự đẹp mắt theo mẫu cho sẵn.

Trẻ cần học được kĩ năng mô tả thế giới xung quanh theo ngôn ngữ của mình, tự tin khi phát biểu, khi tư duy, khi suy luận, khi biểu đạt cảm xúc… chứ không phải chỉ chăm chúi tập luyện sao cho chữ viết thật đẹp, thật hoàn hảo.

Học sinh ở những nước có nền giáo dục phát triển như Âu-Mỹ đều có chữ viết rất xấu, thậm chí nguệch ngoạc không thành kí tự rõ ràng. Vậy thì vì sao các bậc phụ huynh và các thầy cô ở đây không dành thời gian luyện chữ cho trẻ trong quá trình học? Vì họ ý thức được cái giá phải trả, bằng sự phát triển tư duy của trẻ, của việc luyện chữ.

Nói cách khác, họ ưu tiên việc con cái mình phát triển tư duy hơn việc viết được những kí tự đẹp theo mẫu. Điều này giải thích một phần vì sao học sinh ở những nước này thường có khả năng tư duy logic, tư duy phân tích - tổng hợp, tư duy sáng tạo và khả năng biểu đạt tốt hơn so với trẻ ở những nền “giáo dục viết chữ đẹp”.

Lựa chọn của phụ huynh

Suy cho cùng, không ai có thể giỏi mọi thứ cùng một lúc. Các trẻ cũng vậy, hoặc dành thời gian và tâm trí để phát triển tư duy trong quá trình học, hoặc chăm chỉ tập viết để có chữ đẹp theo những mẫu cho sẵn. Việc lựa chọn cho trẻ phát triển theo hướng nào, nhất là với các trẻ trước khi vào lớp 1, là do phụ huynh và thầy cô quyết định.

Chỉ tiếc rằng, trẻ không được quyền lựa chọn cho sự phát triển của mình, nhưng lại gánh trọn hậu quả do những quyết định thiếu hiểu biết của người lớn.

Nếu người lớn thực sự vì sự phát triển lành mạnh, đặc biệt về mặt tư duy của trẻ, mà bỏ qua những lợi ích hoặc ganh đua trước mắt, thì sẽ không cho trẻ đi luyện chữ trước khi đi học. Trẻ vì thế mà phát triển tư duy tốt hơn, gia đình đỡ mệt mỏi hơn và xã hội cũng lành mạnh hơn.

Hãy lựa chọn vì quyền lợi của trẻ, không vì lợi lích, ở bất cứ dạng nào, của người lớn.

TS Giáp Văn Dương (ĐH Quốc gia Singapore)

---
Ghi chú: Tôi không phải là chuyên gia giáo dục.
:)

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ ba, ngày 20 tháng bảy năm 2010

Không lời

Theo đánh giá mới nhất (13/5/2010) của Quacquarelli Symonds, Việt Nam không có trường Đại học nào lọt vào top 200 châu Á. Thái Lan có 7 trường, Malaysia có 6 trường.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ hai, ngày 19 tháng bảy năm 2010

Thái Lan

Đọc bài này, chợt nhớ ra bài ni/bài nớ, nên tóm tắt lại đây cho ai quan tâm, đại ý: Bất chấp bạo động đang diễn ra, kinh tế Thái Lan đã tăng trưởng ngoạn mục trong Quý I năm nay, đạt mức 12%, cao nhất trong 15 năm qua. Tuy nhiên, ảnh hưởng của bạo động ở Thái Lan sẽ lộ rõ hơn vào báo cáo Quý II tới, cần theo dõi.

Những người luôn mang bạo loạn Thái Lan ra dọa dẫm có lẽ cũng nên kiềm chế hơn khi phóng đại nguy cơ của họ và ca ngợi sự ổn định tuyệt vời của mềnh.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ sáu, ngày 16 tháng bảy năm 2010

Giá như...


Giáp Văn Dương
Câu chuyện Vinashin chưa có hồi kết. Nhưng có thể nghe thấy vĩ thanh của nó là điệp khúc: “Giá như…”.

Với riêng tôi, đó là giá như chính phủ đầu tư cho giáo dục thay vì đầu tư cho Vinashin thì có lợi biết nhường nào.

Theo một nghiên cứu công bố gần đây, ở Trung Quốc, một nước có đặc điểm kinh tế - xã hội khá tương đồng với Việt Nam, mức đóng góp của đầu tư giáo dục vào sự phát triển kinh tế chiếm 24.4% trong khoảng 1952-2003. Riêng cho thời kỳ mở cửa, sự đóng góp này là 29.7% (*).

Đến giờ, tuy chưa có số liệu thống kê mức độ đóng góp của Vinashin cho sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam, nhưng chắc chắn đó là một số âm, vì số nợ khổng lồ mà Vinashin mang trên mình ước tính lên đến 90000 tỷ đồng.

Mức độ đóng góp của giáo dục cho sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam, tuy chưa có số liệu chính thức, nhưng có thể mong đợi ở mức tương tự như của Trung Quốc.

Chỉ cần một đánh giá sơ bộ đó, cũng đủ làm cho mỗi người phải thốt lên tiếc nuối: "Giá như…"

Giá như số tiền đầu tư cho Vinashin được dùng để đầu tư cho giáo dục.

Giá như có những nghiên cứu và đánh giá minh bạch về hiệu quả của những suất đầu tư.

Giá như có một cơ chế phân bổ nguồn lực sao cho hiệu quả.

Giá như không có nghịch lý: chính phủ đổ hàng tỷ đô-la để đầu tư cho những “Tập đoàn không đáy” trong khi tính chuyện đi vay 400 triệu USD để xây 4 trường “Đại học đẳng cấp quốc tế” với hy vọng thay đổi nền giáo dục đại học đã quá ư lạc hậu.

Giá như lời nói đi đôi với việc làm: “Quốc sách hàng đầu” trên giấy phải là quốc sách hàng đầu trên thực tế.

Và cuối cùng, giá như không có giá như.
---
(*)Fan Bo-nai and Lai Xiong-xiang, A study on the rate of contribution of education investment to the economic growth in China, Frontiers of Education in China, Vol. 1, No. 4, Dec., 2006.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ tư, ngày 14 tháng bảy năm 2010

Cụ Hinh

Tối qua trò chuyện với cụ Hinh, cụ nhắc:
-Vợ chồng tuy trong nhà nhưng cũng phải nền nếp nghen, "đãi nhau như khách".
Mình chịu ngay.
Chả hiểu đêm nằm nghĩ gì mà sáng nay cụ gọi với sang:
-Nhưng cẩn thận, kẻo nhầm "đãi khách như vợ chồng".
Mình hoảng.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ ba, ngày 13 tháng bảy năm 2010

Quê

>>Đọc tiếp...

====================================
 
Copyright ©2009 Giáp Văn. All Rights Reserved for Contents by Giap Van. Giữ bản quyền với bài viết, tư liệu, quan điểm, sáng tác bởi Giáp Văn.