Chủ nhật, ngày 29 tháng một năm 2012

Tản mạn về văn hóa biển

Giáp Văn Dương

Việt Nam là quốc gia ven biển, theo nghĩa có hơn 3000 km đường bờ biển trải dài từ Bắc chí Nam. Nhưng Việt Nam có văn hóa biển hay không vẫn là chủ đề còn bỏ ngỏ. Phảng phất đâu đó ở các vùng ven biển, các sinh hoạt văn hóa của người dân đã có một số nét đặc trưng rất biển. Nhưng nếu nói văn hóa biển đã được định hình ở những nơi này thì còn phải rất thận trọng. Vì trong văn hóa biển, yếu tố quan trọng nhất là tư duy biển chứ không phải là kiếm ăn từ biển.

Trong cách nhìn đó, để tránh sa vào sự thiếu minh định của khái niệm văn hóa biển, sẽ có ích hơn khi xem xét một khái niệm tương tự nhưng có nội hàm cô đọng và rõ ràng hơn: văn hóa đại dương. Ở đây, văn hóa đại dương sẽ được hiểu như là những đặc trưng văn hóa xuất hiện do các hoạt động của con người trên các đại dương. Theo cách nhìn này, có thể khẳng định: Việt Nam không có văn hóa đại dương. Lý do là cho đến tận ngày nay, người Việt Nam vẫn chưa có các hoạt động thường xuyên, có hệ thống trên các đại dương đủ lâu với cường độ đủ lớn để hình thành nên một đặc trưng văn hóa.

Sự kiện Việt Nam là quốc gia ven biển, nhưng lại không có văn hóa đại dương, suy cho cùng cũng không phải là điều gì đáng xấu hổ. Trên thế giới, có rất nhiều nước ven biển, nhưng số nước có văn hóa đại dương chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đó là những cường quốc biển, có các đội tàu đủ lớn mạnh và đội ngũ thủy thủ đủ kỹ năng để hoạt động dài ngày trên các đại dương. Những cường quốc biển này, theo truyền thống, chỉ bao gồm một số nước châu Âu như Anh, Tây Ban Nha… Cho đến thế kỷ XIX, không có nước nào ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc là cường quốc biển. Trong số đó, có rất nhiều nước ở ngay giữa biển cũng không có văn hóa đại dương, vì chỉ tập trung đánh bắt hải sản ven bờ mà không thể vươn ra chiếm lĩnh các vùng khơi xa. Ngoài các cường quốc biển truyền thống này, chỉ đến thời gian gần đây hơn mới có thêm một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc trở thành cường quốc biển.

Những nước này đều là cường quốc về kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ. Vì thế, trong niềm kỳ vọng về sự phát triển của đất nước, nhiều người đã tìm đến văn hóa đại dương như một phương tiện để phát triển, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành cường quốc biển. Đó là một kỳ vọng tốt đẹp. Tuy nhiên, với tinh thần “ôn cố tri tân”, bài viết này sẽ sơ bộ tìm hiểu tại sao Việt Nam, dù nằm ngay sát biển và gần với một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới, lại đã không thể trở thành cường quốc biển.

Vì sao Việt Nam đã không là cường quốc biển?

Việt Nam là một nước ven biển, nhưng Việt Nam đã không thể trở thành quốc gia biển. Tại sao?

Nếu nhìn lại lịch sử thì thấy rằng, cho đến những năm 1400, Việt Nam cũng như mọi quốc gia khác, không thể trở thành cường quốc biển. Lý do là khoa học kỹ thuật trên thế giới lúc đó chưa phát triển đủ để chế ra những con tàu lớn có thể đi xuyên đại dương. Nhu cầu của các hoạt động kinh tế, quân sự xuyên lục địa cũng chưa đủ để thúc đẩy các nước tăng cường hoạt động của mình trên những vùng biển sâu vốn chứa nhiều nguy hiểm.

Như vậy, cuộc đua trở thành cường quốc biển chỉ diễn ra trong khoảng thời gian nhiều nhất là 600 năm trở lại đây. Việc Việt Nam có cơ hội trở thành cường quốc biển hay không ắt hẳn cũng rơi vào khoảng thời gian này. Vậy trong 600 năm vừa rồi, điều gì đã ngăn cản Việt Nam trở thành cường quốc biển?

Tìm hiểu quá trình các nước vươn ra chiếm lĩnh đại dương thì thấy rằng, việc trở thành cường quốc biển không thể là một sản phầm duy ý chí, mà đòi hỏi phải thỏa mãn một tập hợp các điều kiện nhất định. Trong số đó, quan trọng nhất là bốn yếu tố: i) vị trí địa lý; ii) đặc điểm văn hóa và ý thức hệ chi phối; iii) sức mạnh kinh tế và kỹ nghệ; iv) năng lực tổ chức và tham vọng của chính quyền.

Với vị trí địa lý, rõ ràng nếu một nước không ở gần biển thì sẽ rất khó để phát triển thành cường quốc biển. Tiếc rằng, đây là điều kiện duy nhất mà Việt Nam đáp ứng được ở mức độ cần thiết, tức là gần biển. Những điều kiện còn lại, Việt Nam đã không thể thỏa mãn để có thể phát triển thành cường quốc biển.

Lý do đầu tiên và quan trọng nhất, là cho đến tận ngày nay, Việt Nam vẫn rập khuôn theo mô hình kinh tế - xã hội của Trung Quốc. Trước đây, do cùng ý thức hệ phong kiến Nho giáo, Việt Nam bị ảnh hưởng bởi tâm thức hướng vào lục địa, bám chặt vào đất của Trung Quốc. Vì Trung Quốc không phải là cường quốc biển, nên hẳn nhiên Việt Nam rất khó thoát ra khỏi mô hình gốc này để phát triển độc lập thành cường quốc biển.

Chính tư tưởng hướng về lục địa, coi mình là trung tâm của thế giới của người Trung Quốc, đã ảnh hưởng xấu đến mô hình phát triển của các nước chịu ảnh hưởng nặng về ý thức hệ Nho giáo xung quanh, trong đó có Việt Nam. Hậu quả là trong suốt thời phong kiến, thay vì hướng ra biển để hội nhập với thế giới, Việt Nam lại hướng về phương Bắc với tinh thần bám chặt vào đất trong việc xây dựng mô hình kinh tế - xã hội của mình. Đây chính là neo ý thức đã giữ chân người Việt không vươn ra được với thế giới. Tệ hại hơn, các triều đình phong kiến Việt Nam cũng bắt chước người Trung Quốc tự cho mình là văn minh hơn thế giới bên ngoài, nên đã bế quan tỏa cảng, không chịu canh tân cải cách để phát triển đất nước.

Một số nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, dù là quốc gia ven biển hoặc giữa biển, nhưng cũng không thể phát triển được thành cường quốc biển cho đến khi bứt ra khỏi quỹ đạo của Trung Quốc, với Nhật Bản từ giữa thế kỷ XIX và Hàn Quốc nửa sau thế kỷ XX.

Lý do thứ hai là sức mạnh kinh tế và kỹ nghệ của Việt Nam chưa bao giờ đủ lớn để phát triển các đội tàu chiến, thương thuyền lớn có thể chinh phục đại dương. Cho đến thế kỷ XIV, người Việt Nam vẫn quanh quẩn tập trung làm ăn ở vùng đồng bằng sông Hồng. Đây là vùng đất trũng, nhỏ hẹp, luôn bị thiên tai đe dọa nên người Việt đã không thể có đủ tích lũy cần thiết làm tiền đề cho các chuyến viễn du, các hoạt động vươn ra biển lớn. Quy mô dân số nhỏ cũng là một hạn chế trong việc tích lũy để chinh phục thế giới bên ngoài. Ngay cả sau khi đã nam tiến khoảng hơn 200 năm về trước, diện tích và quy mô dân số của Việt Nam có tăng lên, nhưng địa hình lại hẹp và dài từ bắc chí nam. Địa hình dài và hẹp này có một ưu điểm là tạo ra đường bờ biển dài, nhưng lại có một nhược điểm rất lớn là dàn trải trên một dải có nhiều cấu trúc địa hình và khí hậu khác nhau, trong đó chủ yếu là đồi núi, dẫn đến hạn chế trong việc phát triển nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác ở quy mô lớn. Ngoài ra, đặc điểm dài và hẹp này cũng đã tạo ra tính cục bộ rất lớn trong các hoạt động kinh tế - xã hội của các địa phương. Điều này góp phần kìm chân người Việt Nam vươn ra biển vì nó trái ngược với tinh thần hội nhập của văn hóa đại dương.

Điều đáng lưu ý là sau khi đã chinh phục đồng bằng sông Mekong thì thói quen bám chặt đất từ ngoài Bắc chuyển vào, cộng với sự trù phú của đồng bằng phía Nam, chắc hẳn cũng đã góp phần giữ chân người Việt đi xa hơn ra biển cả.

Đến cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp nên không chủ động được sự phát triển của mình. Sauk hi độc lập năm 1945, Việt Nam lại trải qua ba cuộc chiến lớn, nên chưa khi nào có tích lũy kinh tế - kỹ nghệ đủ mạnh để phát triển hải quân và những đội tàu lớn nhằm chiếm lĩnh đại dương.

Việc coi thường thương nghiệp trong suốt thời phong kiến, với việc xếp hạng thương nhân là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, cũng ảnh hưởng quyết định đến việc buôn bán trao đổi với nước ngoài. Sau khi giành độc lập, tình hình cũng không khá hơn với chính sách “ngăn sông cấm chợ”. Chính việc buôn bán thương mại quốc tế là một trong những động cơ lớn để thúc đẩy các cường quốc châu Âu đóng các tàu hàng lớn và thăm dò khám phá thế giới. Trong suốt lịch sử phát triển của mình, Việt Nam thiếu hẳn động cơ này, nên không thể vươn ra biển dù ở ngay cạnh một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất của thế giới.

Về mặt kỹ kỹ nghệ, việc tiến ra đại dương đòi hỏi một trình độ khoa học công nghệ tương đối cao. Việt Nam nằm ở châu Á, nơi khoa học hiện đại không phát triển, vì thế không thế đóng được các con tàu lớn để vươn ra đại dương.

Còn nhớ, vua Minh Mạng nhà Nguyễn đã từng cho đóng tàu chiến bọc đồng, nhưng sau đó không thể phát triển tiếp vì không có một nền móng khoa học kỹ thuật và kinh tế đủ mạnh để hậu thuẫn. Các hoạt động quân sự đương thời không đủ cường độ cần thiết để thúc đẩy công nghệ đóng tàu chiến. Các hoạt động kinh tế và hệ thống phụ trợ như cảng biển, dịch vụ ven bờ cũng không đủ để thúc đẩy cho ngành hàng hải phát triển.

Thứ ba là về mặt lịch sử và chính quyền, Việt Nam thường trực trong tinh thần thời chiến. Do nằm bên cạnh một nước lớn, lại luôn có tham vọng bành trướng xuống phía Nam, nên Việt Nam có rất ít thời kỳ hòa bình, tự chủ đủ dài để phát triển đến trình độ đủ cao khả dĩ vươn ra đại dương. Thêm vào đó, sự phân chia đất nước thành Đàng Trong – Đàng Ngoài từ cuối thế kỷ XVI đã đẩy Việt Nam vào tình trạng tranh chấp nội bộ hoặc nội chiến liên miên, làm suy giảm nội lực nghiêm trọng.

Các cuộc chiến này, dù là vệ quốc hay nội chiến, đều diễn ra trên đất liền, nên hiển nhiên các kỹ thuật chiến tranh nếu có cũng đều tập trung cho đất liền. Ưu thế của sự thúc bách thời chiến đã không được tận dụng để phát triển hải quân và hàng hải vươn ra đại dương.

Chính quyền phong kiến trong các thời kỳ này đều ưu tiên vào việc củng cố quyền lực, tranh giành nội bộ hoặc bị hút vào việc chống chọi lại sự bành trướng từ phía Bắc để tồn tại, nên đã không hoàn bị đủ mạnh để điều hành công cuộc vươn ra biển. Sựu yếu kém và bất đồng của chính quyền trung ương là một bước cản lớn. Cộng với tinh thần hướng về lục địa, bám chặt đất do bị ảnh hưởng của ý thức hệ phong kiến Trung Quốc, các triều đại Việt Nam chưa bao giờ thực sự có chiến lược vươn ra đại dương.

Đây là thời kỳ khoa học hiện đại ở châu Âu ra đời và phát triển mạnh mẽ. Châu Âu thoát dần ra khỏi đêm trường trung cổ để phát triển và chiếm lĩnh thế giới. Việt Nam trong khi đó vẫn còn phải lo đối phó với sự bành trướng từ phương Bắc và tiêu hao sinh lực vào tranh chấp nội bộ, nên việc không thể bắt vươn ra chinh phục thế giới, trong đó có việc chinh phục đại dương, là điều tất yếu.

Sau khi bị Pháp xâm chiếm và đặt Việt Nam làm thuộc địa từ cuối thế kỷ XIX, chính quyền phong kiến của Việt Nam hoàn toàn mất tác dụng trong việc định hướng sự phát triển của đất nước. Những cuộc chiến tàn khốc mà Việt Nam phải đương đầu trong phần lớn thế kỷ XX và mốt số sai lầm trong chính sách phát triển sau khi thống nhất đã lấy đi nhiều mất cơ hội phát triển của Việt Nam.

Việc vươn ra biển lớn để hội nhập với thế giới chỉ mới thực sự nhen nhúm trong khoảng mười năm trở lại đây, khi Việt Nam và Mỹ ký hiệp định Tự do thương mại song phương. Mười năm là khoảng thời gian quá ngắn để một nước nghèo, lại gặp phải vô số khó khăn về kinh tế và thể chế như Việt Nam, vươn ra mặt biển. Vì thế, cho đến giờ, Việt Nam chưa phải là cường quốc biển cũng là điều dễ hiểu.

Vậy làm thế nào để vươn ra biển lớn? Rõ ràng, những bài học của quá khứ vẫn còn nóng hổi với ước vọng vươn ra biển lớn của người Việt. Không còn cách nào khác, phải khắc phục bằng được những yếu tố trong quá khứ đã ngăn cản Việt Nam vươn ra chiếm lĩnh biển. Trong đó, nóng hổi nhất là thoát khỏi sự chi phối về văn hóa và ý thức hệ từ Trung Quốc để hội nhập với thế giới; phát triển tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ nghệ và nguồn nhân lực đủ mạnh để có thể xây dựng được những đội tàu chiến và thương thuyền lớn có thể vươn ra chiếm lĩnh đại dương; đồng thời củng cố năng lực tổ chức và lãnh đạo của chính quyền ngang tầm tham vọng. Chỉ có như thế, ước mơ trở thành cường quốc biển của Việt Nam mới có thể thành hiện thực.

Không chỉ là mặt biển

Người Việt Nam từ xưa đã không xa lạ với các hoạt động trên mặt nước. Việc sử dụng thuyền để di chuyển, đi lại đã được phổ biến rất sớm, mà minh họa rõ nhất là các hoa văn người chèo thuyền trên trống đồng từ thời văn hóa Đông Sơn, khoảng 2000-3000 năm về trước. Các mộ thuyền cổ cũng cho thấy thuyền là phương tiện di chuyển phổ biến trong một thời gian rất dài đối với người Việt cổ. Với những kinh kỹ năng và kinh nghiệm khởi điểm đó, lại nằm sát bên bờ biển, lẽ ra Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển thành cường quốc biển. Nhưng các lý do nêu trên, có thể còn chưa được thống kê đầy đủ, đã ngăn cản Việt Nam vươn ra đại dương.

Ngày nay, trong thời hội nhập và toàn cầu hóa, nhu cầu xây dựng một nền văn hóa đại dương, chinh phục biển lớn để vươn ra toàn cầu đã trở thành một niềm mong muốn đối với nhiều người Việt. Tuy nhiên, những lý do ngăn cản Việt Nam phát triển thành cường quốc biển trong quá khứ vẫn hiển hiện. Tuy duy bám chặt đất liền, nay biến tướng thành bám chặt một hệ tư tưởng hay một khuôn mẫu cũ, an phận với đời vẫn còn nặng nề như hàng trăm năm về trước. Kiểu tư duy này trái ngược hoàn toàn với tư duy đổi mới, hội nhập, chinh phục của các cường quốc biển. Vì thế, nếu không đổi mới tư duy, từ bỏ những mô hình, thang giá trị cũ thì sẽ rất khó hình thành văn hóa đại dương để vươn ra chinh phục biển lớn.

Nếu trong thời đại công nghiệp, các hoạt động kinh tế biển và liên quan đến biển, thể hiện cụ thể ra ngoài bởi sự có mặt của các cảng biển, là tối quan trọng để một thành phố hay đất nước trở thành cường quốc, thì trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, đặc biệt với sự phát triển của hệ thống hàng không dân dụng, vai trò của hệ thống cảng biển đã giảm đi rất nhiều. Ví dụ cụ thể minh họa cho trường hợp này là hai thành phố Liverpool Manchester của nước Anh. Hai thành phố này có thể coi là địch thủ của nhau trong mọi lĩnh vực, từ bóng đá đến phát triển kinh tế. Do có cảng biển, Liverpool đã từng là một trong những cửa ngõ chính để nước Anh đi ra và chinh phục thế giới. Còn Manchester thì tuy nằm trong nội địa nhưng lại có một sân bay thuộc hàng lớn nhất của nước Anh. Vì thế, sự cạnh tranh của Liverpool và Manchester phần nào là sự cạnh tranh gián tiếp của hai mô hình phát triển kinh tế dựa vào cảng biển và cảng hàng không.

Nếu như trước đây Liverpool chiếm ưu thế vì có cảng biển lớn thì ngày nay, Manchester luôn dẫn trước vì có sân bay lớn. Điều đó cho thấy, khi ngành hàng không dân dụng phát triển thì nếu biết khai thác, cảng hàng không có thể chiếm ưu thế trong việc thúc đẩy hội nhập và phát triển kinh tế so với cảng biển.

Tuy nhiên, cả hai loại hình phát triển dựa vào cảng biển và cảng hàng không này đều có một điểm chung là tư duy hội nhập và chinh phục thế giới rất cao. Đó là một trong những đặc trưng chính của văn hóa đại dương. Vì thế, trong việc xây dựng văn hóa đại dương thì quan trọng nhất là xây dựng tư duy hội nhập và chinh phục thế giới ở bất cứ lĩnh vực nào, chứ không nhất thiết chỉ giới hạn trong việc dốc sức để đóng thuyền to tàu lớn hay xây dựng hệ thống cảng biển tràn lan không hiệu quả.

Muốn làm được điều này, trước hết phải dám từ bỏ tư duy bám chặt đất liền – nay còn thể hiện ở việc bám vào một neo ý thức hệ duy nhất - để chủ động học hỏi những thành tựu về tư tưởng học thuật, cách thức tổ chức xã hội khoa học - dân chủ của thế giới, nhằm thoát khỏi tình trạng tự ru ngủ trong các mô hình, ý thức hệ và thang giá trị đã lạc hậu nhưng lại có tác dụng như những neo ý thức giữ chân Việt Nam không thể vươn ra hội nhập cùng quốc tế.

Xây dựng văn hóa biển, chính vì thế cần khởi đầu bởi việc rũ bỏ những mô thức tư duy cũ, trong đó quan trọng nhất là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa hướng vào lục địa, bế quan tỏa cảng, coi mình là trung tâm của thế giới do ảnh hưởng của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử, để hội nhập với thế giới.

Chỉ như thế, Việt Nam mới có thể hội nhập thực sự và từng bước chinh phục thế giới, ở bất cứ lĩnh vực nào chứ không nhất thiết chỉ giới hạn trong việc chinh phục mặt biển.

---

Bài đã đăng ở Tạp chí Tia Sáng: Xây dựng Việt Nam trở thành cường quốc biển, số Tết 2012.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ bảy, ngày 21 tháng một năm 2012

Câu đối Tết


Năm nay Giáp Văn và gia đình ăn Tết xa xứ. Vậy xin gửi vọng về nhà một vế đối, thay nén tâm hương tưởng nhớ tổ tiên, như sau:

Năm Rồng đến núi Tiên, thắp hương tưởng nhớ mẹ Tiên cha Rồng

Bạn hữu nào có nhã ý đối lại, vui lòng đăng ở phần bình luận, Giáp Văn sẽ treo lên sau.

Chúc tất cả một năm mới an khang, hạnh phúc!
Giáp Văn
---
Núi Tiên là một ngọn núi ở quê GV.


>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ tư, ngày 18 tháng một năm 2012

Biển Đông 2011

Giáp Văn Dương

Năm 2011 là một năm xảy ra nhiều sự kiện dồn dập trên Biển Đông và diễn ra nhiều vận động quân sự - chính trị liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Có thể khái quát những điều này bằng một cụm từ ngắn gọn: Biển Đông bừng tỉnh.

Việt Nam

Ngày 26/5/2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc đã vào sâu trong thềm lục địa của Việt Nam để uy hiếp và cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 2 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, gây nên sự chý ý của dư luận trong và ngoài nước.

Đây có thể coi là giọt nước làm tràn ly, làm cho Việt Nam bừng tỉnh trước áp lực về tranh chấp Biển Đông của Trung Quốc. Thực tế, Trung Quốc đã tiến hành tranh chấp toàn diện trên Biển Đông, từ quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao đến thông tin truyền thông. Trước đó, nhiều tàu cá của ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc ủi chìm, ngư dân bị họ bắt làm con tin và đòi tiền chuộc. Nhưng Việt Nam chỉ dừng lại ở việc ra tuyên bố “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, và tiến hành các thủ tục ngoại giao để đưa tàu, đưa người về nhà.

Nhưng do tính chất nghiêm trọng của sự kiện Bình Minh 2 và sau đó là sự kiện tàu thăm dò địa chấn Viking 2 cũng của Tập đoàn Dầu khí bị quấy phá cũng trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, do tính chất leo thang rõ rệt, và do tính lặp lại của các sự kiện này, nhân dân và chính phủ Việt Nam như bừng tỉnh. Chỉ một ngày sau sự kiện Bình Minh 2, Bộ ngoại giao Việt Nam đã đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc để trao công hàm yêu cầu Trung Quốc chấm dứt những hành động vi phạm chủ quyền đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời yêu cầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại cho tàu Bình Minh 2. Sau đó, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã chính thức nêu lên tại Diễn đàn an ninh Châu Á lần thứ 10, diễn ra sau một tuần sau đó ở Singapore.

Đáng ghi nhận hơn, toàn dân Việt Nam, từ các hội đoàn như Hội Luật gia và Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đến các cá nhân, đã tổ chức nhiều hoạt động chính thức phản đối sự xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Và bắt đầu từ tháng 6, nhiều cuộc biểu tình ôn hòa của nhân dân nhằm phản đối sự gây hấn và xâm phạm chủ quyền nói trên dã diễn ra ngay trước cửa Đại sứ quán Trung Quốc.

Báo chí, truyền thông cũng vào cuộc. Chưa bao giờ thông tin về biển đảo lại tràn ngập trên mặt báo như năm 2011 vừa qua.

Việt Nam bừng tỉnh!

Quốc tế

Những diễn biến trên Biển Đông không chỉ làm cho Việt Nam, mà cả quốc tế cũng bừng tỉnh: 7 nước ASEAN đã "cùng kêu gọi việc tìm ra giải pháp hòa bình và sử dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông". Trước đó, Philippines đã có nhiều hành động mạnh mẽ nhằm phản đối sự gia tăng tranh chấp của Trung Quốc. Chính phủ Phillipnes đã chuẩn bị hồ sơ để kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Nhân dân Philippines cũng tổ chức biểu tình để phản đối Trung Quốc gây hấn.

Đáng chú ý hơn, hai thượng nghị sĩ Mỹ, Jim Webb và James Inhofe, đã đệ trình một nghị quyết lưỡng đảng mang tên "Kêu gọi một giải pháp đa phương, hòa bình cho những tranh chấp lãnh hải ở Đông Nam Á" để "yêu cầu Trung Quốc ngưng các hành động quân sự và trở lại bàn đàm phán đa phương để giải quyết các vấn đề chủ quyền".

Sau vụ va chạm giữa các tàu Trung Quốc và tàu Impacable của Mỹ ngày 8/3/2009, và đặc biệt sau những gia tăng áp lực từ Trung Quốc lên các nước ASEAN có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, nước Mỹ đã chuyển chú ý đến Biển Đông với tuyên bố Mỹ có "quyền lợi quốc gia quan trọng" ở khu vực này của Ngoại trưởng H. Clinton tại Diễn đàn khu vực ASEAN ở Hà Nội tháng 7 năm 2010. Mới đây nhất, ngày 16/11/2011, trong chuyến thăm Australia, tổng thống Mỹ B. Obama đã tuyên bố sẽ triển khai lực lượng lính thủy đánh bộ tại căn cứ hải quân Darwin, cách Biển Đông không xa.

Quốc tế bừng tỉnh!

Trực diện sự thật

Ngày 25/11/2011, trong phiên trả lời chất vấn Quốc hội khóa 11, Thủ tướng chính phủ đã công bố: Năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này”.

Đây là lần đầu tiên việc Hoàng Sa bị cưỡng chiếm được đưa ra công luận bởi người đứng đầu chính phủ Việt Nam. Chính phủ đã nhìn thẳng vào sự thật.

Chúng ta đã dám nhìn thẳng vào sự thật. Đó là: Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974. Còn Trường Sa và Biển Đông đang bị tranh chấp dữ dội từ Trung Quốc và nhiều nước khác trong khu vực.

Chúng ta đã mất gần bốn mươi năm để nhìn thẳng vào sự thật, rằng Hoàng Sa đã bị cưỡng chiếm. Đó là một khoảng thời gian quá dài. Đó là cả một sự chuyển đổi khó khăn. Nhưng đó là bước cần thiết đầu tiên để tìm ra giải pháp. Chính nhờ vào việc nhìn thẳng vào sự thật của người đứng đầu chính phủ, lần đầu tiên, giải pháp đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình đã được đưa ra bàn thảo trước công luận.

Rồi đây, sẽ còn rất nhiều sự kiện và tư liệu lịch sử liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông đòi hỏi thái độ nhìn thẳng vào sự thật như sự thật về Hoàng Sa bị cưỡng chiếm. Sự thật đó có thể gây đau đớn, nhưng không thể tránh vì vô cùng cần thiết cho việc tìm ra các giải pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm. Sẽ phải kiên cường bền bỉ lâu dài. Và chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng khi chúng ta đã dám nhìn thẳng và sự thật, khi toàn dân góp sức tìm giải pháp và đồng lòng hành động thì không khó khăn nào có thể ngăn cản được.

Với Biển Đông, năm 2011 là một năm bừng tỉnh: Việt Nam bừng tỉnh, quốc tế bừng tỉnh và sự thật về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông thoát khỏi vùng cấm bất thành văn, bừng tỉnh.


---
Tiền Phong, số Tết Nhâm Thìn 2012.
>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ bảy, ngày 07 tháng một năm 2012

Giáo dục là cuộc sống

TP - Giáo dục là cuộc sống, hay chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống? Tùy vào câu trả lời, sẽ có các mô hình giáo dục khác nhau hoàn toàn về bản chất. Nhưng giáo dục Việt Nam chưa làm được việc này.

Khi nhận xét về việc học ở Việt Nam, những người có điều kiện trải nghiệm nền giáo dục bên ngoài hầu hết đều có chung những nhận xét: Học sinh Việt Nam phải học quá nhiều, học quá nặng, bị nhồi nhét, học những thứ không sử dụng được…

Sở dĩ xảy ra tình trạng này là vì một số sai lầm trong quan niệm về giáo dục. Trong đó nặng nề nhất là cho rằng: Giáo dục chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho học sinh bước vào đời, chứ không phải là chính cuộc đời của học sinh lúc đó.

Chính vì cho rằng giáo dục chỉ là sự chuẩn bị nên đã xảy ra tình trạng nhồi nhét sao cho hành trang vào đời càng nặng càng tốt. Hoạt động giáo dục vì thế chỉ dừng ở sự chuẩn bị, nhồi nhét kiến thức và thường xa rời cuộc sống thực.

Tính tự chủ và sáng tạo của học sinh bị tước đoạt. Thay vào đó, học sinh được yêu cầu phải nhồi nhét trăm thứ bà rằn theo tiêu chuẩn của một nhóm người chịu trách nhiệm về chương trình giáo dục, thay vì được sống cuộc đời học tập của chính mình.

Việc đánh giá cũng tất nhiên sẽ được tiến hành theo kiểu kiểm tra xem mỗi học sinh đã nhồi nhét được bao nhiêu trong túi hành trang của mình.

Điều này tất yếu dẫn đến việc thi cử hình thức nặng nề. Việc dạy và học cũng bị biến tướng thành dạy và học chỉ để thi cử. Học để thi, chứ không phải học để sống và làm việc như một người tự do có trách nhiệm.

Người giỏi khi đó sẽ được hiểu là học giỏi chứ không phải làm giỏi. Xã hội sẽ tổn phí rất nhiều nguồn lực vào việc dạy và học những điều không cần thiết, thay vì làm ra những sản phẩm sáng tạo, hữu ích cho đời sống thực.

William Butler Yeats cho rằng: “Giáo dục là thắp sáng một ngọn lửa, chứ không phải là đổ đầy một bát nước”. Điều đó có nghĩa, khơi dậy sự sáng tạo và tài năng tiềm tàng của học sinh là nhiệm vụ chính của giáo dục, chứ không phải là sự nhồi nhét kiến thức thuần túy.

Chưa kể, những kiến thức này, khi vào sách giáo khoa thì thường đã phải đi một chặng đường dài và trong nhiều trường hợp đã trở nên lạc hậu.

Mỗi học sinh, hay mỗi con người nói chung, cần được đối xử như một chủ thể sáng tạo. Giáo dục cần khơi dậy tiềm năng sáng tạo đó của người học.

Nếu không, việc học khi đó sẽ trở thành hư học. Còn việc dạy sẽ đánh mất bản chất khơi gợi dẫn dắt thiêng liêng để thoái hóa thành việc nhồi nhét tri thức thuần túy, di hại rất nhiều cho việc phát triển của học sinh sau này.

Trong thời đại ngày nay, với kho thông tin vô tận của internet và các mạng xã hội, việc nhồi nhét đã trở thành vô nghĩa. Con người ngày nay không thiếu thông tin như vài chục năm về trước, mà đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thừa thông tin. Nhiều người đã ví sự khủng hoảng này như một trận lụt mà nếu không biết cách xử lý, mỗi người có thể sẽ bị chết ngộp bởi sự ngập ứ và tàn phá của việc lụt thông tin này.

Vì thế, thay vì nhồi nhét những thông tin và tri thức cụ thể, giáo dục cần dạy cách làm chủ và xử lý nguồn thông tin ngày mỗi ngày nhiều thêm. Học cách học, học cách xử lý tri thức trở nên quan trọng hơn việc học các kiến thức cụ thể rất nhiều. Khi đó, người giỏi sẽ được quan niệm là người làm giỏi, chứ không phải là học giỏi.

Muốn như vậy, giáo dục phải được coi là bản thân cuộc sống của người học, với mọi tình huống, thách thức và được đánh giá bởi những tiêu chuẩn của cuộc sống thực sự chứ không phải chỉ là sự chuẩn bị.

Những năm tháng đi học phải được coi là chính cuộc đời của học sinh, thực với mọi thách thức và kỹ năng cần phải trang bị, chứ không phải chỉ là sự chuẩn bị cho học sinh bước vào đời. Chỉ với cách đó, giáo dục mới có thể lấy lại được sức sống vì vị thế khơi gợi dẫn dắt thiêng liêng của mình.

Giáp Văn Dương

---
Nguồn: Tiền phong, ngày 7/1/2012.
>>Đọc tiếp...

====================================

Chủ nhật, ngày 01 tháng một năm 2012

Năm mới 2012


Chúc tất cả một năm mới trong trẻo, anh lành!

Giáp Văn


>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ tư, ngày 07 tháng mười hai năm 2011

Vì sao chỉ số giáo dục của Việt Nam vẫn ở nhóm trung bình?

TTCT - Báo cáo phát triển con người mà Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố ngày 9-11 vừa qua cho thấy Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) ở nhóm trung bình, xếp bậc 128/187 quốc gia.

Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng trên Lào và Campuchia, xếp sau tất cả các nước còn lại. Chưa hết, trong ba chỉ số quan trọng, chỉ số phát triển giáo dục của chúng ta có giá trị khá thấp.

Nguồn biểu đồ: http://hdrstats.undp.org/en/countries/profiles/VNM.html

Các chỉ số phát triển

Từ năm 2010, UNDP sử dụng phương pháp tính HDI mới, trong đó giá trị của HDI được tính là trung bình nhân của chỉ số tuổi thọ (LEI), chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập (II).

So với thời điểm trước năm 2010, phương pháp tính mới này có thêm vào chỉ số nghèo đói đa chiều (MPI). Trong đó thay vì tính mức nghèo đói theo một định lượng duy nhất là thu nhập trung bình tính theo đầu người, chỉ số này còn phản ánh mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế - giáo dục và chất lượng cuộc sống qua việc sử dụng điện, nước, nhà vệ sinh, diện tích nhà ở, tài sản sở hữu, mức độ suy dinh dưỡng của trẻ em... Như vậy, chỉ số nghèo đói đa chiều phản ánh toàn diện hơn mức sống của người dân.

Theo chỉ số này, tỉ lệ nghèo đói đa chiều ở Việt Nam đã tăng lên mức 23,3%, thay vì mức 14,5% là tỉ lệ nghèo đói quốc gia nếu chỉ tính theo mức thu nhập trung bình.

Nhìn vào giá trị của các chỉ số này thấy rằng chỉ số thu nhập đạt giá trị rất thấp (0,478). Điều này cũng dễ hiểu vì Việt Nam vừa ra khỏi nhóm nước chậm phát triển năm 2008.

Tuy nhiên, chỉ số giáo dục cũng có giá trị rất thấp. Nguyên nhân chính làm chỉ số này có giá trị thấp, theo tính toán ở trên, là số năm đến trường trung bình của người dân (từ 25 tuổi trở lên) chỉ đạt mức 5,5 năm, tức là vừa qua bậc tiểu học được nửa năm. Từ năm 2000, Việt Nam đã công bố đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học. Năm học 2002-2003, tỉ lệ biết chữ ở người trong độ tuổi 15-24 đạt mức 95% với số năm học trung bình là 7,3 năm.

Nhìn vào xu hướng thay đổi của các chỉ số phát triển thấy rằng trong thập niên 2000-2011, HDI của Việt Nam đã tăng chậm hơn so với mức trung bình của thập niên trước đó, đạt mức 1,06%/năm so với mức 1,5% của cả giai đoạn 1990-2011. Trong khoảng thời gian 2006-2011, Việt Nam chỉ tăng được một bậc trong bảng xếp hạng của HDI. Đây là những dấu hiệu đáng lo ngại.

Ngoài ra, báo cáo phát triển con người năm nay nhấn mạnh đến hai yếu tố: bình đẳng và bền vững, được phản ánh rõ trong tiêu đề: “Bình đẳng và bền vững: Một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”. Tuy nhiên, cả hai tiêu chí bình đẳng và bền vững này lại là những tồn tại lớn của Việt Nam. Chính sách phát triển kinh tế theo bề rộng: phát triển do tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và xuất khẩu nguyên liệu thô, không chú trọng bảo vệ môi trường, chất lượng giáo dục thấp đã không giúp Việt Nam phát triển bền vững.

Con số 8% người dân sống trên các vùng đất thoái hóa (năm 2010), cao hơn nhiều nước châu Phi có chỉ số HDI thấp hơn cũng gợi lên nhiều lo ngại. Ngoài ra, các số liệu trong báo cáo cho thấy Việt Nam có sự bất bình đẳng lớn giữa các vùng miền. Nếu xét đến sự bất bình đẳng, HDI của Việt Nam giảm 14%, trong khi chỉ số giáo dục giảm 17,1%. Như vậy, đã có sự bất bình đẳng lớn hơn mức trung bình đối với chỉ số giáo dục.

Giáo dục đáng lo ngại

Nếu dựa vào số liệu của báo cáo phát triển con người của UNDP, thành tích giáo dục của Việt Nam dường như đang thụt lùi: số năm đi học trung bình trong báo cáo (5,5 năm: năm 2011) thấp hơn so với con số công bố trong nước trước đó (7,3 năm trong khoảng 2002-2003). Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do thống kê của Việt Nam và UNDP không giống nhau, hoặc đích xác là chất lượng giáo dục đã thật sự thụt lùi: trẻ em bỏ học tăng, tỉ lệ tái mù chữ cao...

Dù nguyên nhân thật sự của sự khác nhau này là gì đi chăng nữa thì một điều không thể phủ nhận là dưới con mắt của các chuyên gia quốc tế, trình độ giáo dục của Việt Nam đang ở mức rất thấp. Tính trung bình, người Việt Nam trưởng thành chỉ có trình độ giáo dục ở mức tiểu học (số năm đi học trung bình là 5,5 năm), trong khi kỳ vọng chung đối với Việt Nam, người trưởng thành phải có mức giáo dục đạt trình độ giữa phổ thông trung học (số năm học trung bình là 10,4 năm). Như vậy, giáo dục của Việt Nam quả là đáng lo.

Để cải thiện tình trạng này, Việt Nam trước hết cần ngăn chặn việc bỏ học quá sớm nhằm gia tăng số năm đến trường của trẻ. Thay vì theo đuổi những mục tiêu xa vời, ngành giáo dục hãy đưa trẻ đến trường và ngăn chặn tình trạng bỏ học giữa chừng. Nếu không giáo dục sẽ có nguy cơ tụt hậu như cảnh báo và Việt Nam sẽ rất khó phát triển bền vững, nhất là khi Việt Nam đang đặt ra mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020. Sẽ rất khó hình dung một nước công nghiệp hóa khi tính theo trung bình, người dân chỉ mới trải qua bậc học tiểu học.

Chính vì thế bà Ingrid Fitzgerald, tác giả báo cáo, cho rằng: “Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh hiệu quả trong một thị trường ngày càng toàn cầu hóa cao, và khó tránh khỏi bẫy thu nhập trung bình nếu không thể cải thiện các kết quả giáo dục và trình độ kỹ năng một cách bền vững”.

Nhận định này hoàn toàn trùng khớp với khuyến nghị của giới chuyên môn và các nhà làm chính sách trong và ngoài nước suốt nhiều năm qua. Chẳng hạn, ông Lý Quang Diệu trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007 đã cho rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực chính là “nút cổ chai” phát triển mà Việt Nam phải đương đầu”.

Các chuyên gia và trí thức trong và ngoài nước như giáo sư Hoàng Tụy, nhóm giáo sư đại học cùng một số trí thức trong và ngoài nước cũng có những nhận xét và đề xuất tương tự về cải cách giáo dục, trong nhiều năm liên tiếp với nhiều ý kiến tâm huyết. Tiếc thay, chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn không cải thiện. Trong khoảng thời gian 1990-2011, nếu chỉ số tuổi thọ tăng ấn tượng do phát triển kinh tế thì chỉ số giáo dục tăng không đáng kể.

Vì thế, đã đến lúc ngành giáo dục nghiêm túc nhìn lại mình, vì qua báo cáo phát triển con người của UNDP, chất lượng giáo dục của Việt Nam không tốt như đánh giá của những người có trách nhiệm trong ngành.

Chỉ số phát triển con người (HDI) là trung bình nhân của chỉ số tuổi thọ (LEI), chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập (II):

Các chỉ số này đều được tính theo một công thức chung:

Các giá trị tối đa và tối thiểu được chọn như sau:

Với LEI: mức tuổi thọ trung bình tối đa là 83,4 tuổi (ứng với Nhật Bản), mức tối thiểu được chọn là 20. Với EI: số năm học trung bình tối đa là 13,1 (ứng với Cộng hòa Czech), số năm học kỳ vọng tối đa chọn được là 18; số năm học tối thiểu được chọn là 0. Với II: mức thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương tối đa là 107.721 USD (ứng với Qatar) và mức tối thiểu được chọn là 100 USD.

Với Việt Nam, năm 2011, ước tính tuổi thọ trung bình đạt mức 75,2 tuổi; số năm học trung bình là 5,5 năm; số năm học kỳ vọng là 10,4 năm; thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương là 2.805 USD. Do đó, các chỉ số sẽ có giá trị như sau:

Khi đó, HDI của Việt Nam sẽ có giá trị:

GIÁP VĂN DƯƠNG


---
Nguồn: Tuổi trẻ Cuối tuần, 4/12/2011
>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ hai, ngày 05 tháng mười hai năm 2011

Hà Nội 11/11




>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ sáu, ngày 02 tháng mười hai năm 2011

Collected Quotes from Albert Einstein

  1. "Any intelligent fool can make things bigger, more complex, and more violent. It takes a touch of genius -- and a lot of courage -- to move in the opposite direction."
  2. "Imagination is more important than knowledge."
  3. "Gravitation is not responsible for people falling in love."
  4. "I want to know God's thoughts; the rest are details."
  5. "The hardest thing in the world to understand is the income tax."
  6. "Reality is merely an illusion, albeit a very persistent one."
  7. "The only real valuable thing is intuition."
  8. "A person starts to live when he can live outside himself."
  9. "I am convinced that He (God) does not play dice."
  10. "God is subtle but he is not malicious."
  11. "Weakness of attitude becomes weakness of character."
  12. "I never think of the future. It comes soon enough."
  13. "The eternal mystery of the world is its comprehensibility."
  14. "Sometimes one pays most for the things one gets for nothing."
  15. "Science without religion is lame. Religion without science is blind."
  16. "Anyone who has never made a mistake has never tried anything new."
  17. "Great spirits have often encountered violent opposition from weak minds."
  18. "Everything should be made as simple as possible, but not simpler."
  19. "Common sense is the collection of prejudices acquired by age eighteen."
  20. "Science is a wonderful thing if one does not have to earn one's living at it."
  21. "The secret to creativity is knowing how to hide your sources."
  22. "The only thing that interferes with my learning is my education."
  23. "God does not care about our mathematical difficulties. He integrates empirically."
  24. "The whole of science is nothing more than a refinement of everyday thinking."
  25. "Technological progress is like an axe in the hands of a pathological criminal."
  26. "Peace cannot be kept by force. It can only be achieved by understanding."
  27. "The most incomprehensible thing about the world is that it is comprehensible."
  28. "We can't solve problems by using the same kind of thinking we used when we created them."
  29. "Education is what remains after one has forgotten everything he learned in school."
  30. "The important thing is not to stop questioning. Curiosity has its own reason for existing."
  31. "Do not worry about your difficulties in Mathematics. I can assure you mine are still greater."
  32. "Equations are more important to me, because politics is for the present, but an equation is something for eternity."
  33. "If A is a success in life, then A equals x plus y plus z. Work is x; y is play; and z is keeping your mouth shut."
  34. "Two things are infinite: the universe and human stupidity; and I'm not sure about the the universe."
  35. "As far as the laws of mathematics refer to reality, they are not certain, as far as they are certain, they do not refer to reality."
  36. "Whoever undertakes to set himself up as a judge of Truth and Knowledge is shipwrecked by the laughter of the gods."
  37. "I know not with what weapons World War III will be fought, but World War IV will be fought with sticks and stones."
  38. "In order to form an immaculate member of a flock of sheep one must, above all, be a sheep."
  39. "The fear of death is the most unjustified of all fears, for there's no risk of accident for someone who's dead."
  40. "Too many of us look upon Americans as dollar chasers. This is a cruel libel, even if it is reiterated thoughtlessly by the Americans themselves."
  41. "Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism -- how passionately I hate them!"
  42. "No, this trick won't work...How on earth are you ever going to explain in terms of chemistry and physics so important a biological phenomenon as first love?"
  43. "My religion consists of a humble admiration of the illimitable superior spirit who reveals himself in the slight details we are able to perceive with our frail and feeble mind."
  44. "Yes, we have to divide up our time like that, between our politics and our equations. But to me our equations are far more important, for politics are only a matter of present concern. A mathematical equation stands forever."
  45. "The release of atom power has changed everything except our way of thinking...the solution to this problem lies in the heart of mankind. If only I had known, I should have become a watchmaker."
  46. "Great spirits have always found violent opposition from mediocrities. The latter cannot understand it when a man does not thoughtlessly submit to hereditary prejudices but honestly and courageously uses his intelligence."
  47. "The most beautiful thing we can experience is the mysterious. It is the source of all true art and all science. He to whom this emotion is a stranger, who can no longer pause to wonder and stand rapt in awe, is as good as dead: his eyes are closed."
  48. "A man's ethical behavior should be based effectually on sympathy, education, and social ties; no religious basis is necessary. Man would indeeded be in a poor way if he had to be restrained by fear of punishment and hope of reward after death."
  49. "The further the spiritual evolution of mankind advances, the more certain it seems to me that the path to genuine religiosity does not lie through the fear of life, and the fear of death, and blind faith, but through striving after rational knowledge."
  50. "Now he has departed from this strange world a little ahead of me. That means nothing. People like us, who believe in physics, know that the distinction between past, present, and future is only a stubbornly persistent illusion."
  51. "You see, wire telegraph is a kind of a very, very long cat. You pull his tail in New York and his head is meowing in Los Angeles. Do you understand this? And radio operates exactly the same way: you send signals here, they receive them there. The only difference is that there is no cat."
  52. "One had to cram all this stuff into one's mind for the examinations, whether one liked it or not. This coercion had such a deterring effect on me that, after I had passed the final examination, I found the consideration of any scientific problems distasteful to me for an entire year."
  53. "...one of the strongest motives that lead men to art and science is escape from everyday life with its painful crudity and hopeless dreariness, from the fetters of one's own ever-shifting desires. A finely tempered nature longs to escape from the personal life into the world of objective perception and thought."
  54. "He who joyfully marches to music rank and file, has already earned my contempt. He has been given a large brain by mistake, since for him the spinal cord would surely suffice. This disgrace to civilization should be done away with at once. Heroism at command, how violently I hate all this, how despicable and ignoble war is; I would rather be torn to shreds than be a part of so base an action. It is my conviction that killing under the cloak of war is nothing but an act of murder."
  55. "A human being is a part of a whole, called by us _universe_, a part limited in time and space. He experiences himself, his thoughts and feelings as something separated from the rest... a kind of optical delusion of his consciousness. This delusion is a kind of prison for us, restricting us to our personal desires and to affection for a few persons nearest to us. Our task must be to free ourselves from this prison by widening our circle of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature in its beauty."
  56. "Not everything that counts can be counted, and not everything that can be counted counts." (Sign hanging in Einstein's office at Princeton) Copyright: Kevin Harris 1995 (may be freely distributed with this acknowledgement)
    ---
    Source: http://rescomp.stanford.edu/~cheshire/EinsteinQuotes.html
>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ ba, ngày 29 tháng mười một năm 2011

Toàn dân góp sức đòi lại Hoàng Sa


TT - Đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình là một việc lớn và lâu dài. Có rất nhiều việc phải làm và điều chắc chắn là phải huy động lực lượng và cần có thời gian. Đây chắc chắn phải là sự nghiệp toàn dân.

Các bạn trẻ Lý Sơn (Quảng Ngãi) tìm hiểu các hiện vật về Hoàng Sa tại Bảo tàng Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở Lý Sơn - Ảnh: M.Thu

Bước đầu tiên trong việc đòi lại Hoàng Sa là để cho toàn dân thấy được sự thật và tạo điều kiện cho người dân tham gia sự nghiệp này.

Muốn vậy, trước hết cần công khai hiện trạng Hoàng Sa đang bị Trung Quốc cưỡng chiếm cho toàn dân biết. Và ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm việc này tại Quốc hội.

Báo chí - truyền thông không chỉ tường thuật một lần mà phải nhắc đi nhắc lại thường xuyên liên tục, để vấn đề đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình đến được với mọi người dân, tạo cơ sở cho toàn dân góp sức.

Trên thực tế, ngay từ khi Hoàng Sa vẫn còn bị cho là “vấn đề nhạy cảm”, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cần thực hiện chiến lược 3C: Công khai - Công luận - Công pháp đối với tranh chấp biển Đông.

Có thể diễn giải chiến lược 3C này sơ lược như sau: trước hết, cần công khai hiện trạng tranh chấp biển Đông nói chung và Hoàng Sa bị cưỡng chiếm nói riêng, đồng thời công khai lập trường của các bên, công khai các sự kiện nghiêm trọng xảy ra cho toàn dân biết.

Từ đó, sử dụng công luận, mà cụ thể là báo chí - truyền thông, nói cho toàn dân và nhân dân thế giới biết sự thật về tranh chấp biển Đông, trong đó có việc Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974 để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông.

Trong cuộc đấu tranh này, vũ khí hòa bình nhưng sắc bén là công pháp, tức luật pháp quốc tế, các án lệ, Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông...

Như vậy có thể thấy việc sử dụng Công khai - Công luận - Công pháp như một số nhà nghiên cứu gợi ý để đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở biển Đông là một sáng tạo đáng ghi nhận, một bước cụ thể hóa của quan điểm coi việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp toàn dân.

Sẽ còn nhiều sáng kiến nữa được đưa ra khi thực trạng về tình hình tranh chấp biển Đông được công khai hóa và thảo luận rộng rãi dưới tinh thần nhìn thẳng vào sự thật. Với những kinh nghiệm quý báu của dân ta trong sự nghiệp giữ nước, chắc chắn việc đòi lại Hoàng Sa nói riêng và bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung bằng biện pháp hòa bình sẽ mang lại những kết quả mới nếu toàn dân được tham gia.

Đòi lại Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền biển đảo là sự nghiệp toàn dân.

Không thể khác.

GIÁP VĂN DƯƠNG

Chi ngân sách thường xuyên cho huyện đảo Hoàng Sa

Ngày 28-11, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Bá Thanh - bí thư Thành ủy Đà Nẵng - cho biết TP Đà Nẵng năm nào cũng chi ngân sách để các cán bộ chuyên trách huyện đảo này làm nhiệm vụ sưu tầm, trưng bày, giới thiệu hình ảnh, tư liệu về Hoàng Sa. Các tư liệu này được giới thiệu tại phòng trưng bày Bảo tàng Hoàng Sa (đặt tại trụ sở huyện Hoàng Sa, số 32 Yên Bái, TP Đà Nẵng).

Hoàng Sa là đơn vị hành chính cấp quận huyện thứ tám của TP Đà Nẵng và có tổ chức bầu cử. Trước đó tháng 3-2011, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua nghị quyết về việc công nhận huyện đảo Hoàng Sa là một đơn vị bầu cử của TP Đà Nẵng. Huyện đảo Hoàng Sa cùng với huyện Hòa Vang và hai quận Hải Châu, Sơn Trà thuộc đơn vị bầu cử số 1 TP Đà Nẵng.

Trước đó Nhà xuất bản Thông Tin & Truyền Thông (Bộ Thông tin - truyền thông) đã họp với Hội đồng thẩm định trung ương do giáo sư Phan Huy Lê - chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam - chủ trì để rà soát chuẩn bị lần cuối trước khi cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa được xuất bản vào cuối năm nay.

Theo ông Đặng Công Ngữ - chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa dày hơn 200 trang, gồm các phần: Hoàng Sa là của Việt Nam, Công tác quản lý nhà nước đối với huyện Hoàng Sa, Hoàng Sa và những nhân chứng lịch sử, Cảm nghĩ của người Đà Nẵng về Hoàng Sa. Ngoài ra Kỷ yếu Hoàng Sa còn giới thiệu cho người đọc về vị trí địa lý, tầm quan trọng cùng những nội dung cơ bản của quá trình xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ trong lịch sử.

Điểm nổi trội của cuốn sách này là sự hiện diện của 24 nhân chứng sống từng có một thời làm việc tại Hoàng Sa trước năm 1974. Việc xuất bản cuốn sách Kỷ yếu Hoàng Sa nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của nhân dân về bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc. Đồng thời cuốn sách còn nhằm bảo đảm tính khoa học, chuẩn xác và tính pháp lý để tạo lập niềm tin cho người đọc cũng như đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc không đúng sự thật về Hoàng Sa của Việt Nam.

Đ.NAM - H.KHÁ


---
Nguồn: Báo Tuổi trẻ, ngày 29/11/2011.

>>Đọc tiếp...

====================================

Thứ hai, ngày 21 tháng mười một năm 2011

Về quê



>>Đọc tiếp...

====================================
 
©2009 Blog Giáp Văn. All Rights Reserved. Giữ bản quyền với bài viết, tư liệu, quan điểm, sáng tác bởi Giáp Văn.